Dưỡng hộ Bê tông

Phi Trường gửi ngày 2021-05-12 00:00:00

Kết cấu bê tông cốt thép được sử dụng phổ biến trong nhiều công trình xây dựng ngày nay.

Bê tông cốt thép là sự kết hợp hoàn hảo giữa tính chịu nén của bê tông và tính chịu kéo của cốt thép để tạo ra vật liệu vừa chịu nén vừa chịu kéo khi uốn. Vật liệu này có tính kháng ăn mòn cao so với vật liệu thép thuần túy và chi phí lại thấp hơn nhiều.

Thép và Bê tông có nhiều khác biệt tuy nhiên chúng "đến được với nhau" nhờ những điểm chung là biến dạng tương đối đồng nhất dưới tác dụng của nhiệt độ và tính dính bám rất tốt với nhau.

Tuy nhiên để có một kết cấu bê tông cốt thép đạt chất lượng thì chúng ta cần chú ý nhiều mặt trong quá trình thi công kết cấu này.

Trong bài viết, chúng tôi lưu ý một số khía cạnh về anh chàng bê tông cứng đầu (chịu nén tốt) nhưng rất dễ bị hư hỏng khi bị lôi kéo (không chịu kéo hay rất dễ bị phá hoại khi chịu kéo).

Bê tông là hỗn hợp của Xi măng, Cát, Đá, Nước và phụ gia theo một tỉ lệ nhất định. Tỉ lệ đó tạo ra các loại hỗn hợp Bê tông có cường độ và tính chất khác nhau.

Cát, đá có vai trò tạo nên một bộ khung vững chắc để chịu lực, trong khi xi măng đóng vai trò của chất kết dính, nó vừa lấp đầy các lỗ rỗng để tạo nên kết cấu đặc chắc hơn vừa tạo thành mạng lưới kết dính trong toàn bộ hỗn hợp.

Vữa bê tông dạng lõng, sau khi đổ vữa sẽ đông thành khối cứng. Quá trình đông cứng được gọi là quá trình đóng rắn. Trong quá trình này, xi măng phản ứng với nước để tạo mầm liên kết. Quá trình này phát sinh nhiều nhiệt và làm một lượng nước bị hóa hơi, bay ra. Sự thoát nhiệt và sự hóa hơi làm bê tông bị giảm thể tích, đặc biệt là trên bề mặt, dưới gió trời, nhiệt và hơi thoát rất nhanh làm cho bê tông giảm thể tích, co lại và hình thành các vết nứt trên bề mặt thường gọi là nứt co ngót.Vết nứt do co của BT

Bê tông khối càng lớn, nhiệt năng sinh ra càng lớn. Bên ngoài bề mặt, do tiếp xúc không khí nên quá trình lạnh đi và rắn lại nhanh hơn, nó trở thành tác nhân khống chế sự thoát nhiệt và bay hơi của phần bên trong lòng khối, do đó áp lực bay hơi từ một số vết nứt sẵn có trên bề mặt càng lớn và làm vết nứt trầm trọng thêm. Đó là lý do mà bê tông khối lớn sẽ nứt nhiều và nứt lớn nếu chúng ta không có biện pháp giảm nhiệt độ và hạn chế chênh lệch nhiệt độ giữa bên trong và ngoài bề mặt khi quá trình thủy hóa đang diễn ra.

Khi bê tông nứt do co ngót, vết nứt không sâu, tuy nhiên độ sâu từ 2cm đến 4cm cũng có thể đã đến bề mặt lớp thép. Với vết nứt này thì lớp áo bảo vệ thép không còn nguyên vẹn và thép có thể bị ăn mòn dần dần do sự ô xi hóa hoặc tác động xâm thực khác. Về lâu dài, kết cấu sẽ bị giảm yếu và bị phá hoại nhanh hơn dự kiến ban đầu.

Khi thi công chúng ta có khá nhiều biện pháp để giảm bớt tình trạng nứt do co ngót này như sau:

- Đối với bê tông cấu kiện nhỏ hay vỏ mỏng, chúng ta dùng giải pháp hản chế bay hơi như phủ bạt lên bề mặt, bọc bề mặt bằng PE để hạn chế gió, tạo môi trường bảo hòa nhiệt trên bề mặt bê tông, tưới nước để làm mát và tạo màng ...

- Đối với bê tông khối lớn, chúng ta dùng các biện pháp hạ nhiệt độ của phản ứng thủy hóa bằng cách làm lạnh từ bên trong bằng hệ thống làm mát, hoặc đổ bê tông bằng nước đá lạnh, hoặc trộn phụ gia làm chậm phản ứng thủy hóa ... Ngoài ra người ta cũng áp dụng biện pháp tạo màng bằng cách bọc lớp xốp cách nhiệt lên bề mặt khối bê tông và tưới nước làm ẩm chúng.

Xung quanh vết nứt co ngót của bê tông, chúng ta đã có rất nhiều vấn đề để tìm hiểu và lý giải. Ngoài vết nứt loại này, bê tông còn có những vết nứt do nhiều nguyên nhân khác nhau, chúng tôi sẽ phân tích cho quý vị trong thời gian tới. Tuy nhiên để giảm thiểu vết nứt do co ngót cũng đã là một thành công đáng kể trong quá trình thi công và đảm bảo chất lượng cho mẻ bê tông của quý vị.